Các bước thanh toán bằng tín dụng chứng từ trong hoạt động thương mại quốc tế

Thứ Hai, 13 Tháng Tư, 2020 219 lượt xem Chia sẻ bài viết:

Theo Điều 2 Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 600) “Tín dụng chứng từ (Credit) là một thỏa thuận, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán toán cho một xuất trình phù hợp”. Phương thức thanh toán trên gồm những đặc điểm sau:

  • Tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành
  • Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ là sự phù hợp của các chứng từ, tài liệu so với điều khoản trong tín dụng chứng từ
  • Tính độc lập của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ so với hợp đồng thương mại quốc tế

Trong trường hợp Bên bán/Nhà xuất khẩu và Bên mua/Nhà nhập khẩu đã kí kết hợp đồng thương mại quốc tế, thỏa thuận sử dụng tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán của hợp đồng; quy trình thanh toán sẽ được thực hiện như sau[1]:

(1) Bên mua với tư cách người yêu cầu, yêu cầu một ngân hàng tại nước mình – ngân hành phát hành mở thư tín dụng nhằm thanh toán cho Bên bán – người thụ hưởng dựa trên các điều khoản xác định bởi Bên mua.

(2) Ngân hàng phát hành mở thư tín dụng, bằng các điều khoản trong thư tín dụng, cam kết thanh toán cho người thụ hưởng với điều kiện bộ chứng từ được xuất trình hợp lệ. Theo điều 14a UCP 600, các ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hành vi xuất trình dựa trên cơ sở bề mặt mặt chứng từ. Bên cạnh đó, Điều 14d cũng khẳng định dữ liệu trên bề mặt chứng từ không cần thiết phải giống hoàn toàn, nhưng không được mâu thuẫn với dữ liệu của chính nội dung chứng từ, thư tín dụng và tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế. Hoạt động kiểm tra tính hợp lệ có thể kéo dài tối đa 5 ngày sau ngày xuất trình.

Nhằm cụ thể hóa các tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ và hạn chế việc xuất trình bị từ chối, ICC đã ban hành Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ (ISBP). Ngoài UCP, ngân hàng có thể căn cứ vào ISBP để kiểm tra chứng từ và trích dẫn các điều khoản thích hợp của ISBP làm cơ sở quyết định thanh toán hay từ chối thanh toán. Hơn nữa, từ năm 2002, nhằm tiến hành hỗ trợ xuất trình chứng từ điện tử, ICC đã ban hành Bản phụ trương Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ đối với xuất trình chứng từ điện tử theo UCP – eUCP

(3) Ngân hàng phát hành mở thư tín dụng bằng cách yêu cầu ngân hàng thông báo – ngân hàng đại lí của mình gửi thông báo  cho người thụ hưởng rằng thư tín dụng đã được mở.

(4) Để tăng tính đảm bảo thanh toán, ngân hàng phát hành có thể yêu cầu một ngân hàng khác bổ sung sự xác nhận vào thư tín dụng. Theo đó, ngân hàng thực hiện hoạt động này (hay còn gọi là ngân hàng xác nhận) sẽ cùng với ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm về cam kết thanh toán cho người thụ hưởng.

(5) Trong trường hợp cần thiết, ngân hàng phát hành cũng có thể yêu cầu một ngân hàng chỉ định thực hiện một số công việc nhất định (giao nhận, kiểm tra bộ chứng từ) trong quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ.

(6) Người thụ hưởng chuyển hàng hóa và gửi các chứng từ, hóa đơn tới ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận. Nếu bộ chứng từ hợp lệ với các điều khoản của thư tín dụng, ngân hàng xác nhận sẽ thực hiện cam kết thanh toán như thỏa thuận. Tuy nhiên, trong trường hợp bộ chứng từ không hợp lệ, ngân hàng có thể từ chối cam kết thanh toán.

(7) Do quy trình thanh toán liên quan tới sự tham gia của nhiều ngân hàng, thủ tục hoàn trả cũng được điều chỉnh riêng bởi Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng theo thư tín dụng (URR) do ICC ban hành bên cạnh Điều 13 UCP 600. Cụ thể, ngân hàng hoàn trả sẽ hành động theo chỉ thị và ủy quyền hoàn trả của ngân hàng phát hành nhằm thực hiện cam kết thanh toán cho người thụ hưởng. Ngoài ra, cam kết hoàn trả hoàn toàn độc lập với cam kết thanh toán và các điều khoản khác trong thu tín dụng (theo Điều 3 URR 725)

(8) Cuối cùng, ngân hàng phát hành sẽ yêu cầu được thanh toán trước khi chuyển giao bộ chứng từ chứng minh quyền sở hữu cho người yêu cầu (và một số giấy tờ khác nếu có). Nếu Bên mua không thể thanh toán vì chưa xử lý được hàng hóa, ngân hàng phát hành vẫn có thể giao chứng từ và giấy tờ liên quan cho người mua theo một biên lai ủy thác (trust-receipt). Cụ thể, người yêu cầu sẽ nhận được bộ chứng từ và có quyền nhận hàng từ bên vận tải. Tuy nhiên, quyền sở hữu hàng hóa hợp pháp lại thuộc về ngân hàng. Một khi thủ tục hoàn trả được thực hiện, người yêu cầu sẽ có quyền sở hữu hàng hóa.

Để được tư vấn cụ thể liên quan tới lĩnh vực hợp đồng, vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ ICT

  • Địa chỉ: N7-3, KĐT Sống Hoàng, Phường Mai Động, Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội
  • Văn phòng: 6/216 Trung Kính, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
  • Hotline: 091.26.23.203 – 098.365.9519
  • Email: support@ictlaw.vn
  • Website: ictlaw.vn | tuvandangkykinhdoanh.net  laodongtainga.com  I laodongtainhat.com
  • Hotline tư vấn 24/7: 098.365.9519

[1]LS Sealy and RJA Hooley (2009), Commercial Law Text, Cases and Materials, Oxford University Press, tr.855 & 856

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thibft kế web bởi Hoangweb.com
Hotline: 096.1151.079
Chat Facebook
Gọi điện ngay