KHẢ NĂNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NHÓM WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Thứ Tư, 8 Tháng Tư, 2020 134 lượt xem Chia sẻ bài viết:

ICT Law xin giới thiệu một số hành vi trong hoạt động của các website thương mại điện tử (TMĐT) có thể dẫn tới khả năng vi phạm hành chính như sau:

  1. Không cung cấp đầy đủ thông tin

Theo quy định tại Nghị định số 57/2006/NĐ-CP và Thông tư số 09/2008/TT-BCT thì các website TMĐT phải cung cấp thông tin đầy đủ  về thương nhân (gồm: tên, địa chỉ trụ sở, thông tin về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, số diên thoải, thư điện tử hoặc một phương thức liên hệ trực tuyến khác), hàng hóa, dịch vụ, điều khoản giao dịch, về vận chuyển và giao nhận, phương thức thanh toán (trường hợp áp dụng phương thức thanh toán trực tuyến, website phải có cơ chế khởi tạo và lưu trữ chứng từ điện tử chưa những thông tin chi chiết về từng giao dịch thanh toán được thực hiện bằng phương thức này, đồng thời tạo điều kiện cho khách hàng xem, in ấn và lưu trữ chứng từ ngay từ thời điểm chứng từ được khởi tạo),  quy trình cụ thể giải quyết khiếu nại của khách hàng và quy chế bồi thường thiệt hại trên trang thương mại điện tử bán hàng.

2. Website xây dựng chưa hoàn chỉnh, thiếu chức năng mà vẫn đưa vào hoạt động

Yêu cầu đối với website TMĐT bán hàng là phải xây dựng cơ chế rà soát và xác nhận nội dung hợp đồng, đối với website TMĐT cung cấp dịch vụ trực tuyến dài hạn phải có cơ chế tạo điều kiện để khách hàng có thể chấm dứt hợp đồng một cách nhanh chóng và thuận tiện (theo quy định tại Điểm 19, Mục IV – Thông tư số 09/2008/TT-BCT thì website thương mại điện tử phải: công bố thông tin minh bạch, đầy đủ về thủ tục chấm dứt hợp đồng; cung cấp một công cụ thuận tiện để khách hàng gửi thông báo yêu cầu chấm dứt hợp đồng; có cơ chế phản hồi kịp thời với các yêu cầu chấm dứt hợp đồng từ phía khách hàng).  Đối với website TMĐT mà có thực hiện giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, thì theo quy định tại Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, cần phải có chức năng mã hóa chứng từ điện tử, trong hoạt động tài chính với cơ quan tài chính, phải sử dụng chữ ký số và chứng thư số do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.

3. Vi phạm trong việc thu thập, xử lý thông tin khách hàng và việc bảo vệ thông tin cá nhân

Theo quy định tại điều 21, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 thì tổ chức cá nhân thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng phải được  sự đồng ý của người đó. Theo quy định tại Điều 17 – Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT, việc xử lý vi phạm pháp luật về TMĐT được quy định như sau:

  “1. Thương nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, đình chỉ hoạt động, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

4. Thông tin không trung thực gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác

Việc thông tin không trung thực gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác vi phạm các quy định trong Bộ luật dân sự, Luật Công nghệ thông tin, Nghị định về TMĐT, Luật Cạnh trang, Luật Sở hữu trí tuệ ..thì tùy mức độ khác nhau mà áp dụng các hình thức xử phạt khác nhau.

5. Quảng cáo, gửi thư quảng cáo, nhắn tin quản cáo trái pháp luật

Theo quy định tại Điều 18 – Nghị định 63/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin, việc quảng cáo trái pháp luật như sau: a) Gửi thông tin quảng cáo trên môi trường mạng nhưng không bảo đảm cho người tiêu dùng khả năng từ chối nhận thông tin quảng cáo thông qua môi trường mạng;  b) Tiếp tục gửi thông tin quảng cáo trên môi trường mạng đến người tiêu dùng mặc dù người tiêu dùng đó đã thông báo không đồng ý nhận thông tin đó; c) Phân phát địa chỉ liên lạc có trên môi trường mạng mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu địa chỉ liên lạc đó”

6. Tổ chức, kinh doanh các lĩnh vực ngành nghề không được pháp luật cho phép hoặc có quy định cụ thể

Theo quy định tại điểm d, Điều 18, Nghị định 63/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin  thì  các lĩnh vực ngành nghề không được pháp luật cho phép bao gồm: đánh bạc, tổ chức đánh bạc, môi giới mại dâm, lừa đảo, khủng bố trên môi trường mạng…

Đối với  dịch vụ trò chơi trực tuyến tại Việt Nam, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến (Trò chơi trực tuyến: Là trò chơi trên mạng Internet có sự tương tác giữa những người chơi với hệ thống máy chủ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến và giữa người chơi với nhau.Trò chơi trực tuyến qui định trong Thông tư 60/2006/TTLT/BVHTT-BBCVT-BCA là những trò chơi có nhiều người chơi (MMOG – Massively Multiplayer Online Games), bao gồm: Trò chơi trực tuyến nhập vai (MMOPRG – Massively Multiplayer Online Role-Playing Games) và trò chơi trực tuyến thông thường (Casual Games)). Tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ game trực tuyến phải có giấy phép đăng ký kinh doanh, có văn bản của Bộ Văn hoá – Thông tin đồng ý về nội dung, kịch bản của từng trò chơi và  văn bản xác nhận của Bộ Bưu chính, Viễn thông trên cơ sở thống nhất với Bộ Công an về việc đáp ứng các điều kiện kỹ thuật, nghiệp vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến nhằm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, chất lượng dịch vụ và các quyền lợi chính đáng của người sử dụng dịch vụ.

7. Cung cấp dịch vụ thông tin, dịch vụ giải trí số vi phạm bản quyền

Theo quy định tại khoản 3, Điều 12, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 thì hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động công nghệ thông tin là một trong những nội dung bị nghiêm cấm. Bên cạnh đó theo quy định tại khoản 4 và 5, Điều 15, Luật công nghệ thông tin 67/2006/QH11 thì tổ chức, cá nhân không được trích dẫn nội dung thông tin số của tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp chủ sở hữu thông tin số đã có cảnh báo hoặc pháp luật quy định việc trích dẫn thông tin là không được phép. Trường hợp được phép trích dẫn thông tin số, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nêu rõ nguồn của thông tin đó.

Hành vi vi phạm bản quyền  tác giả được quy định tại Điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ  có thể nói tóm tắt là các hành vi sử dụng, chiếm đoạt, sửa chữa, cắt xén, nhân bản hoặc bất kỳ một hành vi nào khác xâm phạm đến quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ sở hữu, tác giả của các đối tượng được bảo hộ theo luật bản quyền tác giả, chủ sở hữu, tác giả của  các đối tượng được bảo hộ đối với quyền liên quan theo luật bản quyền tác giả mà không được phép.

Theo quy định tại Điều 17,  Nghị định 63/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin đối với vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin thì các hành vi: a) Lưu trữ bản sao tác phẩm được bảo hộ phục vụ quá trình truyền đưa thông tin mặc dù việc truyền đưa thông tin đã hoàn tất; b) Sử dụng mã cài đặt chương trình phần mềm bất hợp pháp; c) Không công bố toàn bộ hoặc một phần chương trình phần mềm gốc đã được sử dụng để phát triển thành chương trình phần mềm khác, trừ phần mềm gốc do chính tác giả sử dụng để phát triển thành phần mềm khác được coi là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Để được tư vấn cụ thể liên quan tới các hoạt động của website TMĐT, vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ ICT

  • Địa chỉ: N7-3, KĐT Sống Hoàng, Phường Mai Động, Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội
  • Văn phòng: 6/216 Trung Kính, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
  • Hotline: 091.26.23.203 – 098.365.9519
  • Email: support@ictlaw.vn
  • Website: ictlaw.vn | tuvandangkykinhdoanh.net com  I laodongtainhat.com
  • Hotline tư vấn 24/7: 098.365.9519

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thibft kế web bởi Hoangweb.com
Hotline: 096.1151.079
Chat Facebook
Gọi điện ngay