Một số điểm mới đáng chú ý của Bộ luật Lao động 2019 về Giải quyết tranh chấp lao động

Thứ Năm, 28 Tháng Một, 2021 236 lượt xem Chia sẻ bài viết:

Tranh chấp lao động và Giải quyết tranh chấp lao động phát sinh như thế nào? 

Quan hệ lao động là quan hệ xã hội có tính tất yếu trong thị trường nhằm phúc đáp các nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế – xã hội. Trong đó, một bên là người lao động có nhu cầu làm việc để tìm kiếm thu nhập và một bên là đơn vị, tổ chức, cá nhân có như cầu sử dụng lao động chủ yếu để phục vụ hoạt động thương mại vì mục đích lợi nhuận.

Mặc dù pháp luật cho phép các bên của quan hệ lao động được tự do, tự nguyện trong việc thỏa thuận nhằm xác lập các điều kiện lao động, song trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, giữa các chủ thể có thể xuất hiện các xung đột, mâu thuẫn, bất đồng. Từ đó, tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động đã được đặt ra trong pháp luật lao động của hầu hết các nước trên thế giới.

Điểm mới của pháp luật về Tranh chấp lao động và Giải quyết tranh chấp lao động của Việt Nam

Ở Việt Nam, tranh chấp lao động được chính thức quy định đầu tiên trong Bộ luật lao động năm 1994, sau đó tiếp tục được kế thừa trong Bộ luật lao động 2012. Trên cơ sở quy định của 2 Bộ luật trước đây, Bộ luật lao động 2019 đã có những thay đổi về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động đáng chú ý.

Từ ngày 01/01/2021, Bộ luật Lao động 2019 bắt đầu có hiệu lực với nhiều điểm mới về tranh chấp lao động liên quan đến người lao động và người sử dụng lao động như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khái niệm và các loại tranh chấp lao động

Tại khoản 7 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.”

Khoản 8 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định: “Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác.”

So với BLLĐ 2012, Điều 179 BLLĐ 2019 đã sửa đổi, bổ sung quy định về định nghĩa và các loại tranh chấp lao động như:

– Bổ sung thêm các loại tranh chấp lao động: Tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.

– Bổ sung thêm các loại tranh chấp lao động cá nhân: Giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

– Bổ sung thêm các loại tranh chấp lao động tập thể về quyền: Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.

2. Sửa đổi số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động

Khoản 1 Điều 199 BLLĐ 2012 quy định Số lượng thành viên Hội đồng trọng tài lao động là số lẻ và không quá 07 người.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 185 BLLĐ 2019 thì số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể như sau:

– Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

– Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

– Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

3. Bổ sung thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

So với quy định của Điều 200 BLLĐ 2012, Điều 187 BLLĐ 2019 vẫn giữ nguyên thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân; đồng thời cũng bổ sung thêm Hội đồng trọng tài lao động vào danh mục các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

4. Bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Hội đồng trọng tài lao động

Khoản 2 Điều 190 BLLĐ 2019 đã bổ sung thêm quy định mới về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Hội đồng trọng tài lao động như sau: “Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.”

5. Sửa đổi Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

BLLĐ 2012 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền bao gồm Hoà giải viên lao động; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án nhân dân.

Bộ luật Lao động năm 2019 đã bãi bỏ “thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện”, bổ sung thêm thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Hội đồng trọng tài lao động và bổ sung quy định “trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết thì Tranh chấp lao động tập thể về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động”.

6. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

Điều 194 Bộ luật Lao động năm 2019 sửa đổi, bổ sung thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền như sau: Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động tập thể về quyền là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm; Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm.

Theo đó thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải sửa đổi từ 01 năm thành 6 tháng; thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết là 01 năm, giữ nguyên theo quy định của Bộ luật năm 2012.

Trên đây là một số nội dung về một số điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về giải quyết tranh chấp lao động đáng chú ý. ICT Law hân hạnh đồng hành cùng quý khách hàng trong giải quyết mọi vấn đề pháp lý. Nếu cần tư vấn cụ thể hơn, hãy liên hệ chúng tôi để nhận được tư vấn tận tình – nhanh chóng – hiệu quả nhất.

—————————————–
Thông tin liên hệ:
CÔNG TY LUẬT TNHH QUỐC TẾ ICT
📌Địa chỉ: 172A phố Yên Lãng, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
📌Hotline: 091.26.23.203 – 098.365.9519
📌Email: support@ictlaw.vn
📌Website: tuvandangkykinhdoanh.net – ictlaw.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thibft kế web bởi Hoangweb.com
Hotline: 096.1151.079
Chat Facebook
Gọi điện ngay